Cách uống chè thì trong sách Kiên biều [1] đã nói rõ. Họ Lư, họ Lục [2] nổi tiếng về uống chè. Đến đời Tống mới thấy bày đồ [cd:ấm trà|ấm] chén, hỏa lò, cấp thiêu, đại khái cũng là những đồ để pha chè. Có ông Giới Phủ thưởng chè Dương tiễn, ông Tử Chiêm thưởng chè Vân long. Từ đời Minh, đời Thanh trở xuống, cách chế chè càng tinh, đồ dùng chè càng đủ.

"Cách uống trà"
Những thứ chè bồi sao, chế biến cũng khéo, và những các hồ, ấm, đĩa,
chén, than, lửa, hỏa lò, cấp thiêu đều sắm sửa lịch sự cả. Nào là chè Võ
Di, lò Thành Hóa, ấm Dương tiễn, đều là những thứ tuyệt phẩm dùng để
pha chè. Kể thói tục bày vẽ ra có lắm thứ khác nhau, nhưng chẳng qua
cũng mấy thứ ấy mà thôi. Còn như chè tuyết nha, nước suối hồng tâm, dẫu
các hạng phong lưu người Trung Hoa cũng chưa được nếm đủ hết, nên không
dám nói đến.
Thị hiếu của người ta cũng hơi giống người Trung Hoa. Ta sinh trưởng
đương lúc thịnh thời đời Cảnh Hưng, trong nước vô sự, các nhà quí tộc,
các bậc công hầu, các con em nhà quý thích đều đua chuộng xa xỉ, có khi
mua một bộ ấm chén, phí tổn đến vài mươi lạng bạc. Thường có nhiều người
đến chơi các hiệu chè, thăm dò các phố buôn, vác tiền hết quan ấy chục
khác để mua chè ngon. Lúc ngồi rỗi, pha chè uống với nhau, lại đánh cuộc
xem chè đầu xuân năm nay sớm hay muộn, giá chè năm nay cao hay hạ. Kẻ
thì ưa thanh hương, người thì thích hậu vị, kén hiệu trỏ tên, mua cho
được chè ngon, bày khay chén ra nếm thử. Thậm chí có kẻ đặt tiền sẵn mua
cho được hiệu chè Chính Sơn, gửi tàu buôn đặt cho được kiểu ấm chén mới
lạ, cách hiếu thượng đến thế là cùng cực. Song cái thú uống chè tàu có
phải ở chỗ đó đâu! Chè tàu thú vị ở chỗ tinh nó sạch sẽ, hương nó thơm
tho. Buổi sớm gió mát, buổi chiều trăng trong, với bạn rượu làng thơ
cùng làm chủ khách mà ung dung pha ấm chè tàu ra thưởng thức thì có thể
tỉnh được mộng trần, rửa được lòng tục. Ấy, người xưa ưa chuộng chè tàu
là vì vậy. Từ các đời gần đây trở xuống, thưởng thức chè tàu càng ngày
càng tinh, vị chè nào khác, cách chế chè nào ngon, đều phân biệt kỹ lắm.
Lò, siêu, ấm, chén, lại chế ra nhiều kiểu thích dụng. Song chế ra nhiều
thứ chè, kẻ thức giả cũng cho làm phiền lắm. Còn như nếm chè ở trong
đám ruồi nhặng, bày ấm chén ở cửa chợ bụi lầm, lúc ồn ào đinh óc, vơ vẩn
rộn lòng, thì dẫu ấm cổ đẹp đẽ, chè ngon ngát lừng, ta chẳng biết uống
chè như thế có thú vị gì không? Giá có gặp ông tiên chè, thì cũng cho
lời nói ta làm phải.
Mùa thu năm Mậu Ngọ (1798), ta dạy học ở thôn Khánh Vân, tổng Hà Liễu [3],
các học trò kinh thành cũng thường gửi quà về hỏi thăm, tuy cơm rau
nước lã không được dư dụ cho lắm, nhưng chè tàu thì không lúc nào thiếu.
Thôn Khánh Vân ở hạ lưu sông Tô Lịch, phía Bắc tiếp Xuân Nê, phía Nam
gần Đỗ Hà; các núi Hoàng Xá về vùng Ninh Chúc, Tử Trầm, Nam Công thì
vòng quanh ở phía Tây, còn những làng Nguyệt Áng, Đại Áng, Liễu Nội,
Liễu Ngoại đều trông thấy ở gần chung quanh cả. Thổ sản có thứ vải quả,
rau dưa, làng xóm rừng khe cũng nhiều chỗ tĩnh mịch đẹp đẽ. Khi dạy học
rảnh, ta thường cùng với người đàn anh trong làng là Tô nho sinh [4]
dạo chơi chùa Vân, pha chè uống, hoặc trèo lên cái gò ba tầng ở phía
tây xóm ấy, rồi múc nước suối pha chè uống chơi. Trông thấy những cảnh
mây nổi hợp tan, chim đồng bay lợn, cùng là cỏ cây tươi tốt hay tàn tạ,
hành khách lại qua, ta thường thường gửi tâm tình vào câu ngâm vịnh. Sau
chỗ nhà trường ta là giải sông Tô, men theo bờ đê đi ngược lên đến cầu
Nhị Khê là chỗ người làng qua lại nghỉ mát. Một buổi chiều, ta cùng với
Tô huynh lên chỗ cầu xem các bè đánh cá, thấy đôi bên bờ sông bóng cây
so le thấp thoáng, mảnh trăng in trên mặt nước trong veo, hai anh em
cùng ngồi nói chuyện gẫu, bất giác tâm thần thanh sảng, thú vị vô cùng.
Thấm thoát mới vài bốn năm nay, ta đã thôi không dạy học đấy nữa, mà Tô
huynh thì đã qua đời. Tiền Mục Am [5]
có nói: “Cái vui về non nước bè bạn, tạo vật chưa dễ đã cho mọi người
được hưởng, mà còn có phần lại khó hơn lợi lộc với vinh danh”. Lời nói
ấy chẳng là phải ru ? Từ đời Khang Hi trở về sau, uống chè tàu mới đổi
ra pha từng chén nhỏ, chứ không hãm trong ấm to nữa, vì uống chè, ấm
chén cốt cho nhỏ, mỏng, khi pha mới nổi hương vị. Vòi ấm thẳng thì nước
không đọng, mặt đĩa phẳng thì đặt chén không nghiêng, rế lò dầy mà lỗ
thưa thì than lửa không bốc nóng quá, lòng ấm siêu lồi lên và mỏng thì
sức lửa dễ thấu, chóng sôi. Ấy, cái cách pha chè uống nước, mới đầu còn
thô, sau tinh dần mãi ra. Gần đây lại có chế ra thứ siêu đồng cũng khéo,
nhưng kim khí bị hỏa khí nó hấp hơi, thường có mùi tanh đồng, không
bằng dùng siêu đất nung, pha chè tốt hơn. Song các nhà quyền môn phú hộ
khi uống chè lại lười không muốn pha lấy. Thường thường họ giao cho tiểu
đồng pha phách tất cả, dùng siêu đồng cho tiện và lâu vỡ, như thế không
phải bàn làm chi nữa. Khoảng năm Cảnh Hưng, ở Tô Châu có chế ra một thứ
hỏa lò và một thứ than tàu đem sang bên ta bán, đều là những đồ dùng
của khách uống chè cần đến, người ta đua nhau mua. Song gần đây đã có
người biết cách chế ra, cũng bắt chước luyện than mà hầm lửa, nắm đất mà
nặn lò, so với kiểu của Trung Hoa chẳng khác gì, người ta cũng ưa
chuộng. Ta nhân thế lại tiếc cho người cầm quyền nước, xưa nay không
biết lưu ý đến việc công nghệ dân ta. Tiếc thay!
[1] Kiên biều tập là tác phẩm của Chử Nhân Hoạch (1625 –
1682), người Tô Châu (Giang Tô), gồm 15 tập, ghi chép các chuyện lớn bé
đủ loại, từ nhân vật lịch sử cho đến các chuyện vặt trong dân gian
[2] Họ Lư, chưa rõ chỉ ai. Họ Lục là Lục Vũ (733 – 804), người Cánh
Lăng, Phức Châu (Hồ Bắc), tác giả Trà kinh, sau được tôn là Trà thánh.
[3] Xưa thuộc xã Hà Liễu, tổng Hà Liễu, huyện Thanh Tri, tỉnh Hà Đông, nay thuộc xã Khánh Hà, huyện Thường Tín, Hà Nội.
[4] Đó là cụ Tú tài Tô Xuân Chuẩn, theo gia phả họ Tô ở đây.
[5] Tiền Khởi (710 – 782), người Ngô Hưng (nay là Hồ Châu, Chiết
Giang), danh sĩ đời Đường Đại Tông, làm quan đến Hàn Lâm học sĩ.
Giới thiệu: Việt Bắc